Trường Tiểu Học Đa Nghĩa Đà lạt và Bố Tôi

Trời Melbourne đang vào xuân, những con đường bắt đầu xanh lá. Những cơn gió lành lạnh, lại có chút se se ẩm ướt của cơn mưa đêm, sao chợt nhớ quá những băng ghế xi măng sau mưa dưới hàng cây khuynh diệp của ngôi trường tiểu học Đa nghĩa ngày xưa ấy.

Tuần này là tuần đầu tiên của học kỳ ba ở Úc. Nhìn không khí tựu trường nôn nao lại nhớ đến những ngày nhập học ngày xưa. Trong trí ức của anh em tôi chắc không bao giờ quên được ngôi trường tiểu học đầu tiên của chúng tôi. Trường Đa nghĩa của Đà lạt. Bây giờ ít người nhớ đến tên Đa nghĩa, nhưng với chúng tôi, làm sao chúng tôi quên được ngôi trường ấy. Vì ngôi trường ấy đã trang bị kiến thức cho chúng tôi lớn lên, đã dạy cho chúng tôi nhân cách tốt, có những mầm tri thức cho cuộc sống sau này. Và nhất là, ngôi trường ấy là tâm huyết của cha tôi, Bùi Văn Châu.

Gia đình tôi vào Đà lạt từ 1952. Bố tôi chuyển vào dạy học, sau một thời gian làm đốc học ở tuốt đâu Viên chăn, Sầm nứa, Tuyên quang, những địa danh xa lắc được đánh dấu trên giấy khai sanh của các anh chị lớn trong nhà. Đà lạt là nơi định cư của cả gia đình. Khi tôi lớn lên, gia đình tôi đã ở trong khu cư xá trên dốc Địa dư. Từ cuối dốc nhìn lên bên trái, hai dãy cư xá hai lầu xây gạch, nhà tôi ở dãy thứ hai cư xá, rất dễ phân biệt vì căn nhà có hàng hoa leo đỏ trước cửa. Khu xóm bên trong là khu Di cư, nơi đa số là người di cư từ bắc vào năm 54. Phía dốc trên là nha Địa dư, và trường Grand Lyce’e Yersin. Cả xóm có một ngôi chợ nho nhỏ, trên một khu đất rất nhiều thông giữa hai dãy cư xá, gọi là chợ Vườn Thông.

Xóm Địa dư ấy là nơi tôi và người anh kế sanh ra, và cùng các anh chị lớn lên. Tất cả mấy anh em khi học tiểu học đều học ở trường Đa nghĩa, trường này ở tận đường Hai Bà Trưng gần khu Cây số Bốn. Xa như thế vì ba tôi làm hiệu trưởng ở đó. Một số bạn bè trong xóm cũng đi cùng theo lên đó học. Mỗi sáng sớm, chiếc xe lam số 66 lại lên đón mấy bố con và mấy trẻ em trong xóm, trưa thả về. Bác 66 đưa đón hoài nên cũng xem như họ hàng vậy. Đi xa, bạn bè đông nên vui lắm. Thời ấy con nít đâu nghịch phá gì, lại có ba tôi trên xe. Nên vui nhưng cũng qui củ kể gì.

Ba tôi làm hiệu trưởng có lẽ sau 54, 55 gì đó. Bây giờ hỏi không ai nhớ nữa, nhưng lục trên mạng thấy có nói tới một ông giáo nào đó làm hiệu trưởng Đa nghĩa cho đến trước năm 54, nên chắc bố tôi bắt đầu làm hiệu trưởng trường sau nhiệm kỳ của ông giáo đó. Bây giờ chẳng biết hỏi ai, những người cùng thời ấy mấy ai còn, và nếu còn, mấy ai đã nhớ…

Trong trí nhớ của tôi và trong những hình ảnh gia đình còn giữ lại, lúc tôi ba bốn tuổi đã lẽo đẽo đàng sau bố đi khắp trong trường. Những ngày lễ ở trường, bố đứng nói gì đó, tôi vẫn loanh quanh phía sau. Lúc ấy ngôi trường chỉ vỏn vẹn một dãy năm lớp học. Văn phòng hiệu trưởng nằm ở giữa. Cuối dãy lớp học bên phải là một con dốc nhỏ xíu trong khuôn viên trường là nhà bác cai trường, có bán kẹo bánh cho học trò. Từ nhà bác cai, là con đường đất nhỏ lên khu nhà vệ sinh. Thời gian đó, tất cả còn rất thô sơ.

Bác cai trường lúc ấy hình như tên là Phú, mà sao nghe nói hình như các bác cai ở trường nào cũng tên là Phú cả mới kỳ chớ. Có điều bác cai trường Đa nghĩa dưới mắt chúng tôi lại rất đặc biệt, người bác vạm vỡ, ăn nói lớn tiếng và có cái hay là bác làm được đủ thứ chuyện. Giám thị học sinh đi trễ, phá phách cũng bác; việc bảo vệ trường cũng bác. Mỗi chiều bác ôm một xâu chìa khóa lạch cạch oai phong đi khóa hết các lớp học, khóa các cổng ra vào. Làm vệ sinh trong trường, nhà vệ sinh, cũng bác. Bàn ghế học trò hư gãy, cũng bác sửa; ống nước hư cũng bác sửa luôn. Cắt cỏ, trồng cây, thay kính khi kính cửa sổ hay cửa ra vào bị vỡ, thay cả ổ khóa, sửa hàng rào. Thỉnh thoảng lại đạp xe lên Ty Tiểu học ở Đào Duy Từ chuyển giao giấy tờ, công văn. Tức là mọi chuyện từ A đến Z đều do con người văn võ toàn tài này làm tất tần tật, ngoại trừ việc lên lớp giảng dạy mà thôi. Bác gái thì lo con cái và chăm cái phản trong phòng khách nhà bác. Thức ăn thức uống bán lẻ cho học trò bày hết trên phản, bày chung luôn với thằng bé nhỏ tí mới sanh nằm ngo ngoe. Con trai lớn của bác tên Thọ trạc tuổi tôi và học cùng với tôi trong trường. Cả gia đình bác gắn bó với ngôi trường này suốt bao năm tháng. Các con bác cũng sanh ra và lớn lên ở đây như các hàng cây trong trường vậy.

Bố tôi cho trồng một dãy khuynh diệp dọc theo bờ rào phía đường Hai Bà Trưng. Lúc ấy các học trò lớp lớn được dặn đi học mang theo một ống bơ sữa bò nhỏ hay một bịch ni lông để lấy nước tưới cây cho lớn. Trong giờ chào cờ, bố tôi luôn nhắc nhở học sinh mang theo một bao nhỏ để thấy rác trong sân trường là nhặt bỏ vào bao đó nên trường rất sạch.

Tôi vẫn theo bố trong các buổi họp giáo viên, vẫn nghe thấy bố luôn nhắc nhở các thày cô lúc trời bắt đầu có tí gió, nên đóng các cửa lại để gió khỏi đập vỡ cửa kính. Trong trường tất cả các thầy trò đều có trách nhiệm và rồi thành thói quen bảo vệ ngôi trường sạch đẹp.

Quỹ xây dựng trường được cấp không nhiều, nên bố rất chịu khó đi tới từng nhà phụ huynh kêu gọi hội phụ huynh đóng góp xây dựng trường lớp. Từ từ, bố tom góp từng bao xi măng, bao cát, mét gỗ. Từ từ, bố thao thức từng đêm thiết kế, lên kế hoạch xây dựng trường.

Lớp mẫu giáo đầu tiên trong thành phố Đà lạt với mô hình giảng dạy theo chương trình giáo dục mới được bố mở ra. Lúc đầu chỉ có lớp sáng do cô Hồng. Trong lớp có những chiếc bàn nhỏ xíu. Học sinh học theo tranh ảnh, và thực hành theo phương pháp giáo dục của Mỹ. Tôi và người anh kế theo học và cùng các bạn khác, rất mê lớp học này, tới giờ về luôn nấn ná ở thêm.

Lúc đầu trường chỉ có con đường đất nhỏ đi từ sân dưới đến lớp mẫu giáo. Rồi từ từ thành con đường xi măng. Sau đó là con đường xi măng từ cổng đến cột cờ, rồi đến hành lang lớp học. Các con đường xi măng từ khu lớp phía dưới lên nhà ông cai, lên khu vệ sinh, lên khu cổng sau trường ra đường Thi Sách dần dần thành hình. Các công trình này phần lớn dựa vào sự đóng góp của phụ huynh nên thành hình rất chậm, như các chú kiến tha dần xi măng về lót đường vậy.

Giữa thập niên 60, một dãy ba lớp học được xây dựng ở khu đất trên ở phía sau nhà bác Cai, ở gần đường Thi Sách. Các cây khuynh diệp cũng đã dần lớn lên, bố lại cho từ từ cho xây thêm các băng đá dưới những hàng cây khuynh diệp cho học trò ngồi, xây từng chiếc, từng chiếc một. Dần dần ngôi trường đã trở nên khang trang và thật đẹp đẽ với những hành cây khuynh diệp xanh mướt trên những con đường xi măng uốn lượn công phu. Học trò có chỗ chơi, có chỗ nghỉ, các buổi lễ lại thêm trang trọng trong khuôn viên thiết kế công phu.

Trong thập niên 60, trường Đa nghĩa là trường tiểu học chỉnh trang trong thành phố. Trường lại có một đội ngũ giáo viên thật hùng hậu. Mẫu giáo có cô Hồng, cô Đương. Lớp năm có cô Hướng, cô Hồng. Lớp tư có cô Nhâm , thày Đính. Lớp ba có thày Tín, cô Thủy Tiên. Lớp nhì có cô Yến, cô Đuông. Lớp nhất là thày Tùng, cô Song Xuân. Trước đó, có thày Viên, thày Lạc, thày Tam. Sau thời tôi học, còn có cô Thanh Tuyền, thày Tùng, thày Minh, cô Xuân Lan, v.v… Các thày cô rất quí bố tôi và đối với gia đình tôi như ruột thịt.

Thày Lê Hữu Tín phụ trách phần thể thao và văn nghệ, đem lại rất nhiều giải thưởng cho trường. Tôi còn nhớ hoài những buổi tập văn nghệ do thày Tín phụ trách. Các tiết mục đơn ca, song ca, đồng ca thật xuất sắc với phần hòa âm thật chuyên nghiệp. Thày tập cho tôi làm nhạc trưởng đánh tay cho ban đồng ca hát. Các vũ khúc cũng rất công phu và điêu luyện. Các phần thao diễn thể thao thì khỏi nói, rất đẹp và đa dạng. Đa nghĩa năm nào cũng đoạt giải thưởng gần hết cho các giải mục.

Thày Hồ Sỹ Đính lo phần kỷ luật. Các giờ xếp hàng vào lớp, tan học rất ngay hàng thẳng lối. Thày cao, to và tiếng sang sảng nên học trò rất sợ.

Trong trường, học sinh không bao giờ đánh nhau, to tiếng với nhau. Ngoài trường cũng vậy, học trò rất hiền hòa và cư xử luôn đúng mực. Với hai kiện tướng này và các kiện tướng giáo viên khác, trường Đa nghĩa thật rất đáng tự hào.

Việc xây dựng trong trường, quản lý giáo viên học sinh, xếp đặt chương trình giảng dạy đã chiếm của bố tôi rất nhiều công sức. Bố còn lo lắng cả cho các con đường học sinh hay đi từ nhà đến trường. Những buổi trưa, chiều tôi hay theo bố đến nhà các phụ huynh quanh khu Phan đình Phùng. Bố đến kêu gọi mọi người chung sức làm chiếc cầu gỗ trên đường từ Phan đình Phùng qua Hai Bà Trưng, để học trò đi đến trường không phải lội qua con mương lầy lội.

Tôi nhớ mãi lúc nhỏ cứ lẽo đẽo theo bố đi từ trường Đa nghĩa theo lối tắt băng qua Phan đình Phùng, khúc gần vườn hồng Rosadala. Theo bố đi đến từng nhà phụ huynh ở đó, lúc ấy không biết bố thuyết phục thế nào mà rồi con cầu nhỏ được phụ huynh dựng lên. Khi cầu hoàn thành, học sinh đi học qua cầu ngày đầu tiên, trời hôm ấy mưa mưa, bố dắt tôi ra đó, nhìn học sinh đi qua cầu an toàn, sạch sẽ. Bố vui lắm lận, tôi thấy bố cười và rút khăn tay ra lau nước mắt vì cảm động.

Bố cũng đi đến những căn nhà ở khu Hai Bà Trưng thông qua dốc nhà Làng, xem xét những lối học sinh hay đi tắt, có lối đi nào lầy lội quá, nguy hiểm quá, là bố lại tới từng nhà phụ huynh nhắc nhở, kêu gọi chú ý, góp công sửa lại những lối đi có thể gây nguy hiểm cho học sinh. Cả những con đường tắt từ Cây số Bốn đi xuống Hai Bà Trưng, bố cũng đi ra chú ý xem xét. Ngày ấy hai bố con chỉ đi bộ, cũng không chỉ đi một hai ngày, từ tuần này sang tuần khác mà bố vẫn miệt mài thăm thú. Có lẽ vì thế mà phụ huynh cảm động, mỗi lần kêu gọi sửa cầu, hẻm nhỏ trong xóm, họ rất tích cực. Các việc xây dựng đó cũng là việc sửa sang cho chính con em và gia đình họ mà.

Học sinh trong trường cũng đến năm , sáu trăm mà bố nhớ hết. Các học trò phá phách, gia cảnh khó khăn bố đến từng nhà hỏi thăm. Các thày cô cũng vậy. Bởi vậy có những gia đình ở thật xa, cũng đến gửi con vào Đa nghĩa. Không biết có phải vì cái tên của trường, mà những thày cô, phụ huynh, học sinh của mái trường này rất nhiều tình nghĩa.

Đến tận bây giờ, một số học trò cũ của bố tôi vẫn nhắc nhớ đến bố, với thật nhiều thương quí. Ngày bố bệnh, các học trò đã ở thật xa cũng trở về thăm. Ngày bố mất, có anh chị còn đem con cái tới quàng khăn lễ và để tang bố. Nhiều lần trong các buổi họp Trần Hưng Đạo Bùi thị Xuân, gặp các anh chị lớn học bố tôi hơn nửa thế kỷ, vẫn nhắc tới bố với một lòng kính mến. Bao nhiêu năm rồi, hình ảnh ngôi trường Đa nghĩa vẫn còn đẹp trong trí nhớ của các học trò Đa nghĩa ngày xưa.

Đáng buồn thay, giờ trở về Đà lạt, hỏi đến truờng Đa nghĩa chẳng mấy người biết đến. 40 năm rồi trường đã đổi tên thành trường Lê Lợi. Hàng cây khuynh diệp ngày xưa cũng không còn. Các băng đá chúng tôi hay ngồi trong giờ chơi hay trước khi vào lớp cũng không còn. Dẫy lớp học chính đã lên thành dãy 3 tầng.

Mỗi lần về, đi qua đường Hai Bà Trưng tôi lại rưng rưng nước mắt. Đa nghĩa, ngôi trường tâm huyết của bố tôi giờ đã bị xóa sổ. Nhưng bố ơi, cái tình Đa nghĩa vẫn còn đấy. Các anh chị học trò Đa nghĩa ngày xưa vẫn nhớ đến ngôi trường này, và vẫn nhớ đến bố. Mỗi năm đến ngày giỗ bố, con thắp nén hương lòng tưởng nhớ bố.

Cám ơn bố mẹ đã cho con thành người. Cám ơn bố, và tấm gương tận tụy, hết lòng vì học trò của bố đã soi đường cho chúng con. Và… cám ơn mái trường Đa nghĩa, các thày cô Đa nghĩa đã góp phần giúp chúng tôi khôn lớn với bốn tiếng Nhân, Nghĩa, Đức, Trí …



Thiên Hương
Melbourne
Tháng Mười 2016

Xem thêm hình kỷ niệm về trường ở đây:

https://www.facebook.com/huong.bui.7547/media_set?set=a.10210930550484833.1073741887.1385288960&type=3&pnref=story